Tủ sách biển Đông: Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Thứ bảy, 10/11/2012, 11:27
Bà Monique Chemillier - Gendreau là giáo sư công pháp và khoa học chính trị tại Trường đại học Paris – VII – Denis Diderot, nguyên Chủ tịch Hội luật gia dân chủ Pháp, Chủ tịch Hội Luật gia châu Âu.
Mới đây, bà cũng tham gia Hội thảo quốc tế chủ đề "Biển Đông: Đây có phải là không gian khủng hoảng mới không?" do Học viện Quan hệ quốc tế và Chiến lược Pháp (IRIS) phối hợp với Quỹ Gabriel Péri tổ chức vào 16/10 vừa qua.
Bản tiếng Việt của công trình do TS Nguyễn Hồng Thao dịch, được NXB Chính trị quốc gia (NXB Sự thật) in lần đầu năm 1998 và tái bản lần 1 năm 2011.
Điểm khác biệt của công trình này là việc rà soát các tài liệu lưu trữ của Pháp, với khoảng gần 50 phụ lục đính kèm, gồm các bản đồ, thư và quyết định của chính quyền Pháp trong thời kỳ đô hộ Việt Nam.
|
Bìa cuốn sách ấn bản tiếng Việt. |
- Chương I: Các dữ kiện chung liên quan đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
- Chương II: Việc thụ đắc danh nghĩa ban đầu.
- Chương III: Sự tiến triển tiếp theo của danh nghĩa.
- Chương IV: Các kết luận và các cơ sở giải quyết tranh chấp.
Xem xét các sự kiện tranh chấp trên biển Đông tới năm 1995, bà Monique Chemillier - Gendreau cho rằng, các sự kiện cho thấy một cách hùng hồn tham vọng không thể dập tắt của Trung Quốc trong khu vực, nhưng cũng cho thấy cả sự bền bỉ của Việt Nam trong việc nhắc lại một danh nghĩa tiền thuộc địa…”.
Trong đại sự ký tranh chấp biển Đông mà bà Monique Chemillier - Gendreau liệt kê, bắt đầu từ trước thế kỷ 18 đến thời vua Gia Long khẳng định chủ quyền của An Nam trên các quần đảo và về sau này. Kết luận cũng trùng khớp với đa phần các công trình nghiên cứu của học giả Việt Nam về việc Trung Quốc thờ ơ trước Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời không có một căn cứ nào chứng minh hành động quyền lực của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa cho tới giữa thế kỷ 20.
Sự thờ ơ có thể coi như tuyên bố phủ quyết chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa tiêu biểu mà bà nhắc đến là vụ đắm tàu xảy ra tại quần đảo Hoàng Sa năm 1895 – 1896. Đó là vụ đắm tàu của Đức Bellona và vụ đắm tàu của Nhật Imegi Maru. Hai chiếc tàu vận chuyển đồng này do các công ty Anh bảo hiểm. Hàng hóa trên tàu bị người đánh cá Trung Quốc lấy cắp và gặp phải sự lên án của công ty bảo hiểm.
Khi đó, các quan chức Trung Quốc ở địa phương (Tổng đốc Lưỡng Quảng) đã cãi lại bằng cách trút bỏ mọi trách nhiệm với lý do là quần đảo Hoàng Sa, theo họ là các đảo đã bị bỏ rơi, không thuộc về Trung Quốc và đồng thời cũng không được sáp nhập vào bất cứ một huyện nào của đảo Hải Nam. Câu trả lời này được trích dẫn lại trong báo cáo của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, phụ lục số 5.
Tới năm 1909, Trung Quốc bắt đầu lật ngược thái độ đối với hai quần đảo này. Trong các luận cứ đưa ra, bà đi đến kết luận rằng “người Trung Quốc cho tới thời điểm đó ít hiểu biết về các quần đảo”. Đây là kết luận của một giáo sư người Pháp nổi tiếng, nó hoàn toàn mang tính khách quan trung thực, trong khi đó, các triều đại của Việt Nam đã liên tục thể hiện quyền sở hữu không gián đoạn và thường xuyên với một sự quản lý hòa bình trong ít nhất hai thế kỷ.
Ngược lại, Trung Quốc hiện đang chiếm đóng bất hợp pháp các đảo của Việt Nam trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tác giả nhấn mạnh đến “Nguyên tắc cấm thụ đắc lãnh thổ bằng vũ lực” trong đó ghi rõ nguyên tắc nêu ra năm 1945 được phát triển và tăng cường trong Nghị quyết 26/25 năm 1970. Theo đó, “lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một cuộc chiếm đóng quân sự do sử dụng vũ lực trái với các quy định của Hiến chương. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là một sự chiếm hữu của một quốc gia khác sau khi đe dọa hay sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào đạt được bằng đe dọa hay sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận là hợp pháp”.



